Đẹp như một lẵng hoa giữa lòng thành phố, hồ Hoàn Kiếm
được bao quanh bởi các đường phố Đinh Tiên Hoàng, Lê
Thái Tổ, Hàng Khay. Ba con phố này dài khoảng 1.800m.
Mặt nước hồ là tấm gương lớn soi bóng la đà những cây
cổ thụ, những rặng liễu thướt tha tóc rủ, những mái đền,
chùa cổ kính, tháp cũ rêu phong, các toà nhà mới cao
tầng vươn lên trời xanh.
Trước đây hồ có tên là Lục Thủy vì sắc nước bốn mùa xanh
trong. Thế kỉ XV, hồ Lục Thủy đổi tên là hồ Hoàn Kiếm (trả
gươm), gọi tắt là hồ Gươm. Cái tên Hoàn Kiếm gắn liền với
câu chuyện trả gươm cho rùa vàng của vua Lê Thái Tổ.
Rùa là một trong bốn vật linh (Long, ly, quy, phượng) trong
tâm thức văn hoá dân gian. Giống rùa quý này vẫn còn sinh
sống trong lòng hồ, hằng năm có đôi lần nhô lên mặt nước.
Thật hạnh phúc cho du khách nào nhìn thấy rùa nổi trên
mặt hồ.
Trong hồ có hai đảo nổi. Đảo lớn là đảo Ngọc ở phía bắc
hồ, gần bờ đông, có cầu Thê Húc sắc đỏ uốn cong nối ra
đảo. Đảo Rùa nhỏ hơn, trên có ngọn tháp cổ ở phía nam hồ,
giữa bốn bề lung linh bóng nước.
Hồ Hoàn Kiếm là nơi hội tụ, điểm hẹn của du khách bốn mùa:
Mùa xuân đậm đà lễ hội truyền thống và rực rỡ sắc hoa đào.
Mùa hạ ùa ra từng cơn gió lồng lộng, quạt đi cái oi bức
của phố phường râm ran tiếng ve.
Mùa thu với màn sương huyền ảo, dáng liễu mơ hồ như thực,
như hư.
Mùa đông, lá vàng trải thảm, những giọt mưa phùn bay lất
phất mang theo hơi lạnh. (Nguồn:
Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
...................................................................
Đền được xây dựng trên đảo Ngọc, trong hồ Hoàn Kiếm cùng với Tháp Bút, Đài Nghiên,
cầu Thê Húc (cầu đậu nắng ban mai), lầu Đắc Nguyệt (lầu
được trăng), đình Trấn Ba (đình chắn sóng) và đền chính
hợp thành cụm di tích lịch sử kiến trúc - nghệ thuật và
danh lam, thắng cảnh tiêu biểu của thủ đô.
Đảo Ngọc Sơn xưa được gọi là Tượng
Nhĩ (tai voi), vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt
tên là Ngọc Tượng, đến thời Trần đổi thành Ngọc Sơn. Truyền
thuyết kể rằng, ở gò trong hồ đá, có các tiên nữ thường
về đây múa hát. Thời vua Lê, Chúa Trịnh xây cung Khánh
Thụy ở Ngọc Sơn làm nơi vui chơi. Cuối thời Lê, xây chùa
Ngọc Sơn thờ Phật. Đến thời Nguyễn, chuyển thành đền thờ
Văn Xương - Đế Quân, rồi lại phối thờ Lã Động Tân, Quan
Đế (tức Quan Vân Trường), phật A Di Đà và đặc biệt là tướng
quân Trần Hưng Đạo. Điều này thể hiện quan niệm Tam giáo
đồng nguyên của người Việt.
Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu
đứng ra tu bổ lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây
kè đá chung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ
đông đi vào gọi là cầu Thê Húc.
Trên núi Độc Tôn cũ, ông cho xây một tháp đá, đỉnh tháp
hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả
Thanh Thiên" (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi đó là Tháp Bút. Tiếp đến là một cửa
cuốn gọi là Đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực
bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình
ba con ếch đội. Trên nghiên có khắc một bài minh nói về
công dụng của cái nghiên mực xét về phương diện triết học.
Người đời sau ca ngợi là: Nhất đài Phương Đình bút.
Từ cổng ngoài đi vào có hai bức tường hai bên, một bên
là bảng rồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho hai bảng
cao quý nêu tên những người thi đỗ, khiến cho các sĩ tử
đi qua càng gắng công học hành.
Tên cầu Thê Húc nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời.
Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, còn gọi là Đắc Nguyệt
Lâu (lầu được trăng) dưới bóng cây đa cổ thụ, ở giữa một
vùng cây cối um tùm, trông như từ dưới nước nhô lên.
Đền chính gồm hai ngôi nối liền nhau, ngôi đền thứ nhất
về phía bắc thờ Trần Hưng Đạo và Văn Xương. Tượng đặt ở
hậu cung trên bệ đá cao khoảng 1m, hai bên có hai cầu thang
bằng đá. Tượng Văn Xương đứng, tay cầm bút. Phía nam có
đình Trấn Ba (đình chắn sóng - ngụ ý là cột trụ đứng vững
giữa làn sóng không lành mạnh trong nền văn hoá đương thời).
Đình hình vuông có tám mái, mái hai tầng có tám cột chống
đỡ, bốn cột ngoài bằng đá, bốn cột trong bằng gỗ.
Tuy là một ngôi đền kiến trúc mới, song đền Ngọc Sơn là
một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc. Sự kết
hợp giữa đền và hồ đã tạo thành một tổng thể kiến trúc
Thiên - Nhân hợp nhất, tạo vẻ đẹp cổ kính, hài hoà, đăng
đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa
con người và thiên nhiên. Đền và hồ đã trở thành những
chứng tích gợi lại những hoài niệm về lịch sử dân tộc,
thức tỉnh niềm tự hào chính đáng, lòng yêu nước, cũng như
tâm linh, ý thức mỗi người Việt Nam trước sự trường tồn
của dân tộc. (Nguồn:
Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
...................................................................
Tháp đứng trên vỉa hè bên phía hồ Hoàn Kiếm đối diện
với Trung tâm Ngoại vụ Bưu điện Hà Nội qua trục đường
Đinh Tiên Hoàng.
Đây là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân, còn gọi là
chùa Quan Thượng, một quần thể kiến trúc Phật giáo nổi
tiếng một thời. Nguyên là vào giữa thế kỷ XIX ở chỗ này
và toàn thể khu vực trung tâm Bưu điện có một ngôi chùa
lớn. Khuôn viên hình tám cạnh gồm hai chục nếp nhà, nhà
thờ Phật, nhà thờ Mẫu, nhà in Kinh, nhà cho các sư ở,
cả thảy trên một trăm gian, bên trong trang trí rất tráng
lệ. Ngoài chùa là hồ sen.
Trước cửa chùa là ngọn tháp Hoà Phong. Chùa được xây
dựng vào năm 1846 theo sáng kiến của Quan Thượng (chức
quan đứng đầu tỉnh Hà Nội) Nguyễn Đăng Giai.
Năm 1898, cùng với đà mở mang xây dựng đường phố mới,
chùa bị phá hủy, chỉ còn ngọn tháp Hòa Phong. Đây là
một loại tháp hiếm có ở Hà Nội, thuộc loại tháp bốn cửa,
biến dạng của Stupa (một loại hình tháp của Phật giáo
Ấn Độ). Bốn mặt tầng hai có hình bát quái. Bát quái ban
đầu là công cụ chỉ phương hướng, theo vũ trụ quan Trung
Hoa. Tháp Hòa Phong là tổng hợp những quan niệm về vũ
trụ của Phật giáo. (Nguồn:
Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
...................................................................
Là một cụm kiến trúc gồm ngôi chùa và tòa đài xây dựng
giữa hồ vuông. Cả cụm có tên là đài Liên Hoa. Đài này
lâu nay quen gọi là chùa Một Cột, hình vuông, mỗi bề
3m, mái cong, dựng trên cột đá hình trụ. Cột có đường
kính 1,20m; cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất) đỡ một
hệ thống những thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn kiên
cố đỡ cho ngôi đài dựng bên trên khác nào một đóa hoa
sen vươn thẳng trên khu ao hình vuông có lan can bằng
gạch bao quanh. Từ bên ngoài có lối nhỏ bằng gạch đi
qua ao đến một chiếc thang xinh xắn dẫn lên Phật đài.
Trên cửa Phật đài có biển đề "Liên
Hoa đài" (Đài hoa sen) ghi nhớ sự tích nằm mộng của vua Lý dẫn tới việc xây chùa.
Sử chép "Lý Thái Tông (1028 - 1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, vua
cũng được dắt lên đó. Khi tỉnh giấc vua đem việc ấy hỏi
các quan. Có người khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa
ao, làm toà sen của Phật đặt trên cột như đã thấy trong
mộng. Cho các sư chạy đàn, tụng kinh cầu cho vua sống lâu,
vì thế gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài cõi phúc)".
Việc dựng chùa và đài hoa sen tiến hành vào năm 1049. Chưa
rõ ngôi chùa như thế nào, chứ qui mô Liên Hoa Đài thì
một tấm bia cổ ngay từ đời Lý đã ghi "...Đào
hồ Linh Chiếu, giữa hồ vọt lên một cột đá đỉnh cột nở
đóa hoa sen nghìn cánh, trên sen dựng tòa điện màu xanh.
Trong điện đặt pho tượng Quan Âm. Vòng quanh hồ là dãy
hành lang. Lại đào ao Bích Trì, mỗi bên đều bắc cầu vòng
để đi qua. Phía sân cầu đằng trước, hai bên tả hữu xây
tháp lưu ly" (Bia chùa Đọi ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam).
Như vậy, Liên Hoa Đài thời Lý
lớn hơn ngày nay nhiều, cả những bộ phận hợp thành và hình
dáng cũng phong phú hơn.
Trong thực tế, cụm chùa Một Cột đã qua nhiều lần sửa chữa.
Ngày 11-9-1954, trước khi rút khỏi Hà Nội tạm chiếm, quân
đội thực dân Pháp đã cho nổ mìn phá huỷ Liên Hoa Đài. (Nguồn:
Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
...................................................................
Thành cổ xưa nằm trong một khuôn viên khá rộng, phía tây
giáp phường Hoàng Diệu, phía đông giáp đường Nguyễn Tri
Phương, phía nam giáp đường Trần Phú, phía bắc giới hạn
bởi phố Phan Đình Phùng, thuộc quận Ba Đình.
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long,
toà thành được xây dựng và mở rộng ở các vương triều sau.
Thành Thăng Long được qui hoạch kiểu "Tam
trùng thành quách" với ba vòng thành lồng nhau. Cấm thành, hay Long Phượng thành thời Lý - Trần
ở trong cùng, là khu vực hoàng cung. Hoàng thành ở giữa
bọc lấy khu kinh tế thị dân ở phía đông. Ngoài cùng là
dải La thành hay Đại La thành. Năm 1805, nhà Nguyễn xây
thành Hà Nội đã giữ lại khu vực Cấm thành làm hành cung
cho vua ở mỗi khi tuần du phía bắc. Thời Pháp, khi phá
thành Hà Nội, nguời Pháp cũng giữ lại khu này làm chỉ huy
sở của quân đội.
Năm công trình kiến trúc cổ còn sót lại sau khi Pháp phá
thành Hà nội, tính từ phía nam lên bắc gồm các hạng mục
sau: Cột cờ, cửa Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu
và cửa chính Bắc Môn.
Cửa Đoan Môn là toà duy nhất còn được giữ lại trong tổng
thể, bao gồm một vọng lầu có hai tầng, lầu trên tám mái,
dưới gồm một lối vào mở năm cửa lớn. Phía trên cổng chính,
mặt nam còn hàng chữ "Đoan
Môn". Hiện nay Đoan Môn còn tương đối nguyên vẹn.
Điện Kính Thiên, điện bị phá năm 1886 để làm toà nhà ban
chỉ huy pháo binh (quân đội Pháp). Hiện chỉ còn lại những
bậc thềm đá với hai hàng lan can rồng đá ở giữa, hai hàng
lan can đá chạm khắc hai bên ở phía nam, phía bắc cũng
có một bậc thềm trang trí rồng đá. Tam cấp ở điện Kính
Thiên ở mặt nam có tất cả 10 bậc, mặt bắc có bảy bậc do
những viên đá lớn ghép lại.
Hậu Lâu, còn gọi là Lầu công chúa, xây bằng gạch, phía
dưới hình hộp, trên là công trình kiến trúc ba tầng. Lầu
dưới có ba tầng mái, lầu trên là hai tầng mái.
Bắc Môn, có dạng hình thang mà hai bên là hình tam giác,
lòng hình vòm cuốn xây bằng gạch, mép cửa kè đá hình chữ
nhật, diềm trên bằng đá trang trí nền cánh sen. Phía bắc
cửa có tấm biển đá viết chữ Hán "Chính
Bắc Môn". Bên cạnh phía phải cũng gắn một tấm biển đá khắc ngày 25-4-1882 và hai vết
đạn đại bác - dấu vết của cuộc chiến tranh với Pháp. Cửa
thành vẫn còn, Vọng Lâu ở trên nền cổng thành đã bÞ phá.
Thành phố đã làm lại Vọng Lâu để khôi phục lại vẻ đường
bệ, chững chạc vốn có của nó.
Năm điểm di tích trên tuy quy mô kiến trúc không lớn, song
cùng với những di tích còn nằm lại dưới lòng đất minh chứng
về một trung tâm chính trị, kinh đô của đất nước suốt gần
nghìn năm lịch sử.
Ở phía nam thành cổ Hà Nội, còn lưu lại một phần kiến trúc
của trường đại học đầu tiên ở Việt Nam: Văn Miếu - Quốc
Tử Giám khởi dựng vào đầu thế kỉ XI dưới thời nhà Lý. (Nguồn:
Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
...................................................................
Cột cờ là một trong những công trình kiến trúc thuộc khu
vực thành cổ Hà Nội còn nguyên vẹn.
Cột cờ nằm trong khuôn viên Bảo tàng Quân đội, đường Điện
Biên Phủ, phường Điện Biên, quận Ba Đình.
Xây dựng năm 1812 dưới triều vua Gia Long, cột cờ gồm ba
tầng bệ, thân cột và hệ thống cầu thang xoáy bên trong.
Ba tầng dưới là ba khối vuông xây chồng lên nhau từ to
đến nhỏ, trên cùng là thân cột cao chừng 20 m, hình lục
lăng, có trổ các cửa hoa nhỏ để tạo không khí và ánh sáng
cho bên trong. Đỉnh cột hình bát giác, có trụ để cắm cờ,
trèo lên đỉnh cao nhất sẽ bao quát được toàn bộ khu vực
xung quanh. (Nguồn:
Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
...................................................................
Hồ Trúc Bạch cách Hồ Tây bởi con đường Thanh Niên. Đường
Thanh Niên có từ năm 1957 - 1958 theo ý kiến của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, sau khi hồ được thanh niên học sinh
Hà Nội lao động trong những ngày thứ bảy cộng sản mở
rộng như ngày nay. Trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành
từ một con đê hẹp được đắp ngăn một góc Hồ Tây.
Hồ Trúc Bạch có từ thế kỉ XVII khi dân hai làng Yên Hoa
(nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp
con đê ngăn góc đông nam Hồ Tây để nuôi bắt cá. Từ khi
thành một hồ biệt lập, hồ đã đi vào thư tịch cổ. Sách "Tây
Hồ chí" cho biết nguyên ở phía nam hồ có làng Trúc Yên, có nghề làm mành, do đó nhà
nào cũng trồng trúc, trúc mọc như rừng. Thời chúa Trịnh
Giang (1729 - 1740) xây ở đây một cung điện gọi là Viện
Trúc Lâm. Về sau, viện trở thành nơi giam cầm những cung
nữ có lỗi, phải dệt lụa để mưu sinh. Lụa đẹp, bóng bẩy,
nổi tiếng khắp kinh thành, gọi là lụa làng Trúc.
Ven hồ Trúc Bạch có nhiều di tích lịch sử và công trình
kiến trúc đặc sắc như đền Quán Thánh ở ngay góc tây nam
hồ. Phía đông có chùa Châu Long (phố Châu Long), tương
truyền xây từ thời Trần, là nơi tu hành của công chúa con
vua Trần Nhân Tông. Có đền An Trì, nơi thờ Uy Đô, một anh
hùng chống quân Nguyên.
Ba phía chung quanh hồ phố xá che khuất, chỉ có phía tây
giáp đường Thanh Niên mới bày ra vẻ đẹp êm ả phẳng lặng
của mặt hồ. Phía bắc hồ có một gò đất nhỏ, trên gò có đền
thờ Cẩu Nhi gắn với chuyện Lý Công Uẩn dời đô.
Hồ Trúc Bạch cùng với công viên Lý Tự Trọng và Hồ Tây tạo
thành một tổng thể thiên nhiên hài hoà, làm thành một thắng
cảnh đẹp của thủ đô Hà Nội. (Nguồn:
Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>